hista.vn

Xử lý nước thải công nghiệp

Mỗi ngành sản xuất sẽ có nước thải công nghiệp khác nhau. Và với kinh nghiệm nhiều năm trong việc xử lý nước thải. Hista sẽ giới thiệu cho quý khách 1 hệ thống xử lý nước thải phổ biến như sau.

 

 

Giai đoạn một: Lược rác

Quy trình vật lý của xử lý nước thải bắt đầu bằng việc sàng lọc những vật lớn đã lọt vào hệ thống cống, và nếu không được loại bỏ, có thể làm hỏng máy bơm và cản trở dòng chảy của nước. Một tấm chắn thanh thường được sử dụng để loại bỏ các vật phẩm lớn khỏi đầu ra và cuối cùng được đưa đến bãi rác.

Giai đoạn hai: Sàng lọc

Loại bỏ sạn bằng cách cho dòng chảy qua / qua buồng chứa sạn.

Cần phải loại bỏ sạn mịn lọt vào ống dẫn nước để tránh làm hỏng máy bơm và thiết bị ở hạ nguồn (hoặc ảnh hưởng đến dòng nước). Quá nhỏ để sàng lọc ra ngoài, sạn này cần được loại bỏ khỏi buồng chứa sạn. Có một số loại buồng chứa sạn (nằm ngang, tạo khí hoặc xoáy) kiểm soát dòng nước, cho phép sạn nặng rơi xuống đáy buồng; nước và chất hữu cơ tiếp tục chảy sang giai đoạn tiếp theo của quá trình. Hạt sạn được loại bỏ vật lý từ đáy của buồng. 

Giai đoạn ba - Bể lắng sơ cấp

Đây là Bước đầu tách chất hữu cơ rắn ra khỏi nước thải.

Chất rắn được gọi là chất hữu cơ / bùn chìm xuống đáy bể và được bơm đến thiết bị phân hủy bùn hoặc khu vực xử lý bùn, được làm khô và kéo đi. Tốc độ lắng thích hợp là một chỉ số quan trọng cho việc bể lắng hoạt động tốt như thế nào. Điều chỉnh tốc độ dòng chảy vào bể lắng có thể giúp người vận hành điều chỉnh tốc độ và hiệu quả lắng.

Sau khi loại bỏ sạn, đầu vào đi vào bể lắng sơ cấp lớn tách ra từ 25% đến 50% chất rắn trong đầu vào. Những bể lắng lớn này (đường kính 75 feet, 7½ inch ở các cạnh và 10½ feet ở trung tâm làm ví dụ) cho phép các chất rắn nặng chìm xuống đáy và dòng chảy của đầu ra sạch hơn. Hiệu quả của quá trình lọc sơ cấp là vấn đề của lưu lượng nước thích hợp. Nếu dòng nước chảy quá nhanh, các chất rắn không có thời gian chìm xuống đáy dẫn đến tác động tiêu cực đến chất lượng nước ở hạ lưu. Nếu dòng nước chảy quá chậm, nó sẽ ảnh hưởng đến quá trình lên dòng.

Các chất rắn rơi xuống đáy bể lắng được coi là bùn và được bơm ra ngoài thường xuyên để đảm bảo không ảnh hưởng đến quá trình tách. Bùn sau đó được loại bỏ sau khi loại bỏ hết nước và thường được sử dụng làm phân bón.

Giai đoạn bốn - Sục khí

Không khí được bơm vào bể sục khí để khuyến khích chuyển hóa NH3 thành NO3 và cung cấp oxy cho vi khuẩn tiếp tục nhân giống và phát triển.

Sau khi chuyển đổi thành NO3, vi khuẩn loại bỏ / tách các phân tử oxy khỏi các phân tử nitrat và nitơ (N) được tạo ra dưới dạng N2 (khí nitơ).

Trọng tâm của quá trình xử lý nước thải là sự kích thích và tăng tốc quá trình tự nhiên của vi khuẩn, phá vỡ các chất hữu cơ. Điều này bắt đầu trong bể sục khí. Chức năng chính của bể sục khí là bơm oxy vào bể để kích thích sự phân hủy của bất kỳ chất hữu cơ nào (và sự phát triển của vi khuẩn), cũng như đảm bảo có đủ thời gian để chất hữu cơ bị phân hủy. Quá trình sục khí có thể được thực hiện bằng cách bơm và làm tan không khí vào bể hoặc thông qua việc khuấy mạnh để thêm không khí vào nước. Quá trình này được quản lý để tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của vi khuẩn. Mức khí oxy [O2] dưới 2 ppm sẽ tiêu diệt vi khuẩn, làm giảm hiệu quả của cây trồng. Giám sát oxy hòa tan ở giai đoạn này của nhà máy là rất quan trọng. Các phép đo amoniac và nitrat thường dùng để đo hiệu quả của vi khuẩn trong việc chuyển đổi NH3 thành N2.

Một thông số quan trọng để đo lường trong xử lý nước thải là Nhu cầu Oxy Sinh hóa (BOD). BOD là một chỉ số thay thế cho lượng vật chất hữu cơ hiện có và được sử dụng để xác định hiệu quả của quá trình phân hủy vật chất hữu cơ. Có một số thử nghiệm khác được sử dụng để đảm bảo sự phân hủy vật chất hữu cơ tối ưu (và giảm BOD) như đo pH, nhiệt độ, Oxy hòa tan (DO), Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Thời gian lưu giữ thủy lực (tốc độ dòng chảy), Thời gian lưu giữ chất rắn (khoảng thời gian vi khuẩn ở trong buồng sục khí) và Hỗn hợp Chất rắn lơ lửng trong rượu. Việc giám sát liên tục và chính xác là rất quan trọng để đảm bảo BOD đầu ra cuối cùng được yêu cầu.

Giai đoạn năm - Bể lắng thứ cấp

Nước thải đã qua xử lý được bơm vào bể lắng thứ cấp để lắng cặn hữu cơ còn lại ra khỏi dòng nước đã xử lý.

Khi nước thải ra khỏi quá trình sục khí, nó chảy vào bể lắng thứ cấp, giống như bể lắng sơ cấp, bất kỳ chất rắn (hoặc hạt mịn) rất nhỏ nào cũng chìm xuống đáy bể. Những chất rắn nhỏ này được gọi là bùn hoạt tính và bao gồm hầu hết là vi khuẩn hoạt động. Một phần bùn hoạt tính này được đưa trở lại bể sục khí để tăng nồng độ vi khuẩn, giúp nhân giống và đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ. Phần thừa được bỏ đi.

Nước chảy từ bể lắng thứ cấp về cơ bản đã giảm đáng kể chất hữu cơ và phải đạt được các thông số kỹ thuật đầu ra dự kiến.

Giai đoạn sáu - Clo hóa (Khử trùng)

Clo được thêm vào để tiêu diệt bất kỳ vi khuẩn nào còn sót lại trong khoang tiếp xúc.

Với việc tăng cường nồng độ vi khuẩn như một phần của giai đoạn sục khí, cần phải kiểm tra nước thải đầu ra xem có vi khuẩn hay không và để khử trùng nước. Điều này đảm bảo rằng vi khuẩn ở nồng độ cao hơn quy định sẽ không được thải ra môi trường. Khử trùng bằng clo là loại khử trùng phổ biến và rẻ tiền nhất nhưng khử trùng bằng ozone và tia cực tím cũng đang ngày càng phổ biến. Nếu sử dụng chorine, điều quan trọng là phải kiểm tra nồng độ clo tự do để đảm bảo chúng ở mức chấp nhận được trước khi thải ra môi trường.

Giai đoạn bảy - Phân tích và kiểm tra nước

Kiểm tra mức độ pH thích hợp, amoniac, nitrat, phốt phát, oxy hòa tan và nồng độ clo dư để phù hợp với tiêu chuẩn .

Giai đoạn tám - Xử lý nước thải

Sau khi đáp ứng tất cả các thông số kỹ thuật tiêu chuẩn, nước sạch được đưa trở lại môi trường.

Quý khách hàng có thể liên hệ ngay với chúng tôi qua số hotline 0931 072 112 để được tư vấn miễn phí.